Đánh giá hiện trạng sản xuất và đặc điểm hình thái, chất lượng quả của một số giống cau tại Việt Nam

Trong bối cảnh nhu cầu hợp tác quốc tế về sản phẩm từ cây cau ngày càng tăng, Viện Phát triển khoa học và công nghệ Vùng đã tiến hành nghiên cứu, đánh giá thực trạng sản xuất và chất lượng giống cau tại một số tỉnh phía Bắc, qua đó mở ra định hướng phát triển bền vững cho loại cây trồng này.

Năm 2024, Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng (nay là Viện Phát triển khoa học và công nghệ Vùng) đã có buổi làm việc và đón tiếp đoàn công tác của Công ty TNHH Kou Wei Wang (Hồ Nam, Trung Quốc) – đơn vị chuyên sản xuất và chế biến kẹo cau. Tại buổi làm việc, phía đối tác đã chia sẻ về mô hình trồng cau tại đảo Hải Nam cũng như công nghệ chế biến tại Hồ Nam, đồng thời bày tỏ mong muốn tìm kiếm cơ hội hợp tác trong lĩnh vực trồng trọt và giới thiệu giống cau Hải Nam.

Kết thúc hội đàm, đại diện Công ty Kou Wei Wang đã trân trọng mời Lãnh đạo Viện sang thăm và trao đổi cụ thể hơn về phương án hợp tác tại Hải Nam, Trung Quốc. Trước những tín hiệu tích cực từ thị trường và đối tác, Viện Phát triển khoa học và công nghệ Vùng đã đề xuất và thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng sản xuất và đặc điểm hình thái, chất lượng quả của một số giống cau tại Việt Nam”. Mục tiêu của nhiệm vụ là làm rõ bức tranh toàn cảnh về quy mô trồng trọt, năng lực chế biến và đặc tính sinh học của quả cau bản địa.

Phạm vi và kết quả khảo sát thực địa

Trong khuôn khổ đề tài, nhóm nghiên cứu đã tiến hành điều tra, đánh giá tại một số vùng trồng cau trọng điểm khu vực phía Bắc, bao gồm: xã Hải Đường (huyện Hải Hậu, Nam Định); xã Cao Nhân (huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng - nay là xã Quang Trung, TP. Thủy Nguyên); và xã Giao An (huyện Lang Chánh, Thanh Hóa).

Kết quả điều tra tình hình sản xuất tại các địa phương (Ninh Bình, Hải Phòng, Thanh Hóa) ghi nhận những số liệu đáng chú ý:

Về quy mô diện tích: Ninh Bình là địa phương có diện tích trồng cau lớn nhất trong phạm vi khảo sát, đạt 100 ha; trong khi đó tại Thanh Hóa diện tích thấp nhất, đạt 5 ha.

Về năng suất và hiệu quả kinh tế: Năng suất cau dao động từ 10 - 40 kg/cây/năm (trung bình 25 kg/cây/năm). Xét về hiệu quả kinh tế, mô hình tại Ninh Bình đạt mức cao nhất với doanh thu 660 triệu đồng/ha (mật độ 2.200 cây/ha), giá trị thu nhập bình quân đạt 300.000 đồng/cây/năm.

Hiện trạng chế biến và tiêu thụ

Khảo sát về chuỗi giá trị chế biến và thương mại cho thấy sự phân hóa rõ rệt giữa các vùng:

Hạ tầng chế biến: Thành phố Thủy Nguyên (Hải Phòng) là khu vực tập trung năng lực sơ chế mạnh nhất với 37 lò xưởng. Ngược lại, tại xã Giao An (Thanh Hóa) hiện chưa có cơ sở sấy khô quả cau.

Giá thành sản phẩm: Thị trường ghi nhận mức giá cau tươi dao động từ 45.000 - 80.000 đồng/kg. Đối với cau sấy khô, giá trị gia tăng đáng kể, đạt mức thấp nhất là 300.000 đồng/kg và cao nhất lên tới 450.000 đồng/kg.

Đặc điểm hình thái và các yếu tố cấu thành năng suất

Nghiên cứu sâu về đặc tính sinh học và hình thái quả cau tại các địa phương cho thấy:

Về năng suất cá thể: Khối lượng quả/cây ghi nhận mức cao nhất là 8,07 kg/cây, tiếp theo là tại Nam Định và thấp hơn tại Thanh Hóa. Về số lượng, Hải Phòng và Nam Định có sự tương đồng, đạt lần lượt 273 và 275 quả/buồng, trong khi Thanh Hóa có số lượng thấp nhất.

Về hình thái quả: Có sự khác biệt nhất định về kiểu hình giữa các vùng. Quả cau tươi tại Hải Phòng có hình trứng (oval), trong khi tại Nam Định quả có dạng hình trứng dài (oval dài). Các phép đo thực tế xác nhận kích thước quả tại Nam Định dài hơn 0,3 cm so với quả tại Hải Phòng.

Kiến nghị và giải pháp

Dựa trên các kết quả phân tích, nhóm nghiên cứu đưa ra các đề xuất nhằm thúc đẩy ngành hàng cau Việt Nam:

Cần hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm khuyến khích sản xuất và chế biến sâu các sản phẩm từ quả cau, phục vụ đa dạng các ngành kinh tế trong nước.

Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại, thúc đẩy xuất khẩu cau tươi và cau khô sang các thị trường quốc tế.

Tiếp tục theo dõi, đánh giá các mô hình canh tác hiệu quả, đồng thời triển khai các phân tích chuyên sâu về thành phần và công dụng của hạt cau để gia tăng giá trị sản phẩm.

Tác giả: Nguyễn Phương Tùng, Lê Thành Phượng, Đinh Thị Ngọc (Phòng Chuyển giao công nghệ, Viện Phát triển Khoa học và Công nghệ Vùng)

 
VIẾT BÌNH LUẬN CỦA BẠN:
zalo
Chung nhan Tin Nhiem Mang